Thứ Hai, 13 tháng 3, 2017

Uống vang đỏ giúp chống bệnh phổi

Uống vang đỏ giúp chống bệnh phổi


Loại hoá chất này hiệu quả hơn nhiều so với các loại thuốc điều trị COPD hiện nay. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, cách tốt nhất để ngăn chặn tổn thương phổi là không hút thuốc. Hút thuốc là nguyên nhân chính gây ra chứng bệnh này. COPD không thể đảo ngược và ngày càng trầm trọng hơn.



Khi mắc COPD, phổi suy yếu dần, làm cho bệnh nhân khó và thậm chí không thể thở được. Mọi thứ mà bác sĩ có thể làm là làm dịu các triệu trứng.

Resveratrol là một chất chống oxy hoá, tồn tại trong vỏ của các loại trái cây màu đỏ chẳng hạn như nho. Các chuyên gia cho rằng nó là thành phần hữu ích chính trong vang đỏ. Loại đồ uống này góp phần chống ung thư, bảo vệ tim mạch và cải thiện chức năng của não bộ. Nhóm nghiên cứu thuộc Viện tim phổi quốc gia, ĐH Hoàng gia London, đã nghiên cứu cách thức phổi sưng tấy ở những bệnh nhân COPD.

Họ tập trung vào đại thực bào - tế bào sản xuất các protein cytokines. Ở bệnh nhân COPD, có quá nhiều cytokine được tạo ra, gây sưng tấy phổi. Các nhà nghiên cứu đã xem xét mẫu đại thực bào từ dịch phổi của 15 người hút thuốc và 15 bệnh nhân COPD, rồi làm cho chúng hoạt động bằng cách sử dụng một hoá chất tên là interleukin trước khi thêm resveratrol. Kết quả cho thấy thêm resveratrol làm mức cytokines giảm 94% ở đại thực bào của người hút thuốc và 88% ở đại thực bào của bệnh nhân COPD.

Các nhà khoa học sẽ tiếp tục nghiên cứu để xem bao nhiêu resveratrol tới được mô phổi. Tiến sĩ John Harvey thuộc Hiệp hội ngực của Anh cho biết: ''Vang đỏ có tác dụng chống bệnh tim và cần tiến hành nhiều nghiên cứu để đánh giá vai trò của nó trong việc giảm nhẹ triệu chứng của bệnh phổi mạn tính''.

Những bài thuốc trị bệnh viêm phổi bằng trái cây

Những bài thuốc trị bệnh viêm phổi bằng trái cây

Bài 1

- Thành phần: Rễ chuối tiêu 120 gam, muối ăn một ít.
- Cách chế: Giã nát rễ chuối, vắt lấy nước, đun nhỏ lửa cho nóng.
- Công hiệu: Chữa viêm phổi.
- Cách dùng: Tra muối, uống lúc nước còn ấm, mỗi ngày 2-3 lần.
Những bài thuốc trị bệnh viêm phổi bằng trái cây

Bài 2

- Thành phần: Hạnh nhân 9 gam, ma hoàng 6 gam, thạch cao 25 gam, cam thảo 6 gam.
- Cách chế: Cho cả 4 thứ trên vào ấm, đổ nước sắc.
- Công hiệu: Có tác dụng điều trị nhất định đối với bệnh viêm phổi.
- Cách dùng: Uống mỗi ngày 1-2 thang.
Những bài thuốc trị bệnh viêm phổi bằng trái cây

Bài 3

- Thành phần: Bạch quả (ngân hạnh) tươi 250 gam, dầu vừng một ít.
- Cách chế: Bạch quả bỏ vỏ, cho vào bình, đổ dầu vừng vào trộn, sau đó nút kín, chôn sâu xuống đất.
- Công hiệu: Có tác dụng điều trị nhất định bệnh viêm phổi mạn tính.
- Cách dùng: Sau một tháng đào lên ăn. Ngày đầu ăn 1 hạt, ngày thứ hai ăn 2 hạt, tăng dần đến 30 hạt. Dùng nước ấm uống cùng.

Đánh răng đẩy lùi bệnh viêm phổi

Đánh răng đẩy lùi bệnh viêm phổi

Để tránh nhiễm trùng với những căn bệnh chết người, những "bệnh từ bệnh viện", công cụ giản đơn và hiệu quả - một chiếc bàn chải đánh răng!



Các điều dưỡng viên Trường Đại học Điều dưỡng Tel Aviv (Israel) đã phát hiện một phương pháp đơn giản nhưng rất hiệu quả.
Bệnh viện là nơi nguy hiểm nhất cả đối với những người khoẻ mạnh, chứ đừng nói đến bệnh nhân, vì ở đó không thiếu các vi trùng, virus gây ra những căn bệnh chết người. Các bệnh nhân phải dùng máy thở nhân tạo thường có hệ miễn dịch rất yếu và chống lại chất kháng sinh nên càng dễ dàng mắc những bệnh nguy hiểm.

Trong số những bệnh nguy hiểm nhất có bệnh mà các bệnh nhân nằm viện lâu ngày thường mắc là bệnh viêm phổi liên quan đến máy thông khí (gọi là bệnh VAP – Ventilator-Associated Pneumonia), một bệnh nhiễm trùng phổi phát triển ở 15% bệnh nhân phải thở nhân tạo – mà tỉ lệ tử vong đặc biệt cao, từ 33 đến 50%.

Giảm tỉ lệ các bệnh nhân mắc thêm bệnh VAP trong thời gian điều trị có nghĩa là sẽ cứu sống được nhiều người, đồng thời giảm được chi phí điều trị.

Răng và miệng chúng ta luôn luôn là nơi sinh sống của một quần thể vi trùng bình thường thì vô hại. Quá trình nhiễm trùng bắt đầu khi các ống thông khí tạo ra cho những vi trùng vô hại ấy một con đường dẫn đến những phần dưới của phổi. Vi trùng theo những giọt nước chảy xuống dưới ống. Tới đây, gặp điều kiện thuận lợi là hệ miễn dịch đã bị suy yếu, chúng nhân bản rất nhanh và gây ra bệnh VAP (và cả những bệnh khác nữa).

Các điều dưỡng viên Trường ĐH Điều dưỡng Tel Aviv đã đề xuất và thử nghiệm một phương pháp đơn giản, đồng thời chứng minh tính hiệu quả cao của nó trong việc làm giảm nguy cơ mắc bệnh VAP. Phương pháp ấy hầu như chẳng đòi hỏi một chi phí nào ngoài việc chăm sóc, bởi “thiết bị” cần thiết là chiếc bàn chải đánh răng thông thường. Chỉ cần đánh răng cho bệnh nhân, kể cả các bệnh nhân mất tri giác, mỗi ngày 3 lần. Vậy mà so với trước đây, số người bị viêm phổi đã giảm một nửa.

Nghiên cứu viên chính kiêm giảng viên Trường ĐH Điều dưỡng Tel Aviv là Ofra Raanan cho hay: “Khó mà đánh giá chiếc bàn chải đánh răng ngăn ngừa được bao nhiêu phần trăm số bệnh nhân VAP, nhưng rõ ràng là bệnh viêm phổi thường mắc của những bệnh nhân nằm viện lâu ngày giảm rất đáng kể”. Biện pháp hết sức đơn giản này đã làm tăng cơ hội sống cho nhưng người phải thở nhân tạo”.

Một thao tác bổ sung khác mà các điều dưỡng viên đề xuất là dùng máy hút đờm từ miệng và họng bệnh nhân để tránh nhiễm trùng cho họ. Cứ sau vài giờ, các điều dưỡng viên lại dựng giường của bệnh nhân lên một góc nghiêng 45 độ để làm thao tác này.

Những điều dưỡng viên Tel Aviv đề nghị soạn thảo thành quy trình chăm sóc bệnh nhân có bổ sung việc đánh răng và hút đờm định kỳ trong ngày để tránh “bệnh từ bệnh viện” cho các bệnh nhân không thể tự mình làm được và áp dụng trên toàn thế giới. Chắc chắn quy trình mới này có thể cứu mạng sống cho nhiều người.

Xem thêm: Bán thuốc bỏ thuốc lá bằng thảo dược - Thầy lang Nghi là ai? - Hội chứng ruột kích thích là gì?

Phương pháp phòng chống bệnh viêm phổi

Điều quan trọng nhất để trị bệnh có hiệu quả và tránh biến chứng là chữa trị kịp thời và thích hợp. Không nên để nặng qúa rồi mới đi bác sĩ, vì vừa làm bệnh nặng, khó chữa, nguy cơ bị biến chứng và tử vong cao, mà lại tốn kém hơn rất nhiều.

Phương pháp phòng chống bệnh viêm phổi

Phương pháp phòng chống bệnh viêm phổi

1.Khi nào nên đi bác sĩ hoặc vào phòng cấp cứu?

Nếu triệu chứng nặng, với khó thở, sốt cao, nên vào bệnh viện càng sớm càng tốt. Những người triệu chứng không thật rõ ràng, nhưng nếu tuổi cao, trẻ em nhỏ, hoặc đã có sẵn nhiều bệnh khác, cũng cần đi gặp bác sĩ sớm, hoặc nếu thấy có vẻ trầm trọng thì cũng nên đi thẳng vào bệnh viện để được chữa trị kịp thời và thích hợp.
Nếu cảm cúm kéo dài hơn một tuần hoặc trở nặng, cũng cần đến bác sĩ để xem có bị biến chứng viêm phổi chưa.
Điều quan trọng nhất để trị bệnh có hiệu quả và tránh biến chứng là chữa trị kịp thời và thích hợp. Không nên để nặng qúa rồi mới đi bác sĩ, vì vừa làm bệnh nặng, khó chữa, nguy cơ bị biến chứng và tử vong cao, mà lại tốn kém hơn rất nhiều.

2. Viêm phổi thường được chữa như thế nào?

Có ba chuyện chính:
- Một là chữa nguyên nhân viêm phổi, thường là do vi trùng hoặc đôi khi là do siêu vi trùng. Nguyên nhân thường được chữa bằng kháng sinh. Lúc đầu bác sĩ có thể cho kháng sinh bao vây tùy theo nguyên nhân và các nguy cơ của từng bệnh nhân đối với các loại tác nhân gây bệnh khác nhau.
Sau đó dựa trên các kết quả xét nghiệm như cấy đàm, cấy máu để xác định chắc chắn nguyên nhân cũng như độ nhạy thuốc của tác nhân gây bệnh mà bác sĩ có thể điều chỉnh thuốc cho thích hợp.
- Hai là chữa các triệu chứng và biến chứng. Ví dụ như sốt thì phải hạ sốt, khó thở thì phải cho dưỡng khí và đôi khi phải đặt ống thở để cho thở máy, vân vân...
- Ba là nâng đỡ và duy trì sức đề kháng của cơ thể bằng cách nghỉ ngơi, dùng đủ nước, dinh dưỡng đầy đủ, giữ cơ thể vệ sinh, sạch sẽ.

3. Có thể tự chữa viêm phổi ở nhà hay không?

Những người trẻ, sức đề kháng của cơ thể còn tốt, bệnh vừa mới phát, có thể cho thuốc uống tại nhà.
Những trường hợp nặng hoặc cơ thể vốn đã yếu như những người đã bị bệnh kinh niên, người già, trẻ em nhỏ, dễ bị biến chứng, có thể sẽ cần phải điều trị trong bệnh viện từ hai ngày đến một tuần vì cần truyền thuốc qua tỉnh mạch và các phương pháp hỗ trợ khác như thở dưỡng khí, và sẵn sàng để đối phó kịp thời nếu biến chứng xảy ra.

4. Phải làm gì nếu sốt cao quá?

Nếu sốt nhẹ, có thể chỉ cần giữ mát và chườm nước, hoặc đi tắm. Nếu sốt trên 38.5 độ C thì nên bắt đầu cho thuốc giảm sốt. Cần phải chú ý nhất là ở trẻ em, vì sốt cao quá có thể gây ra động kinh và tổn thương não của trẻ.
Điều cần chú ý là khi bị sốt, không nên “úm” kỹ, mặc quần áo dầy, trùm mền..., vì sẽ làm sốt nặng hơn. Nếu sốt cao trên 39 độ C, dùng thuốc không thấy bớt chút nào, thì nên đi bác sĩ và bệnh viện ngay.
Cần chú ý là thuốc giảm sốt chỉ chữa triệu chứng, phải dùng đúng kháng sinh thì mới chữa được nguyên nhân của sốt, tức là nhiễm trùng.

5. Có nên tắm rửa khi bị viêm phổi hay không?

Nói chung, dù bị viêm phổi, cảm, cúm hay bệnh gì khác, giữ cơ thể sạch sẽ là điều cần thiết để làm cho ta cảm thấy thoải mái hơn, và giúp mau hết bệnh.
Như đã nói, lạnh không phải là nguyên nhân của viêm phổi, do đó ta không cần phải tránh nước. Nếu sợ lạnh, thì tắm rữa bằng nước hơi ấm một chút cũng là điều tốt.

6. Cần phải uống thuốc như thế nào?

Thứ nhất, nên đi bác sĩ để được chẩn đoán chính xác hầu kê đúng thuốc. Không nên mượn thuốc của người khác. Cần nhớ là người chẩn đoán và cho thuốc nên là bác sĩ chứ không phải là y tá hay dược sĩ.
Khi đã được cho thuốc, cũng cần nhớ theo đúng lời dặn. Nhất là thuốc trụ sinh, dù thấy bệnh đã bớt chỉ sau vài ngày, cũng phải dùng đủ liều và đủ ngày để tránh lờn thuốc cho cả mình lẫn cộng đồng.

7. Dinh dưỡng cho người bị viêm phổi?

Nên bảo đảm đủ dinh dưỡng bằng những thức bổ dưỡng và dễ tiêu. Nói chung nên ăn nhiều bữa hơn, và mỗi bữa nhỏ hơn bình thường. Ví dụ, bình thường ăn ba bữa mỗi bữa ba chén, thì khi bệnh nên ăn năm sáu bữa, mỗi bữa nữa chén hay một chén các thức ăn dễ tiêu nhưng đầy đủ chất bổ.
Nên quan niệm ăn uống trong lúc bệnh cũng là một loại “thuốc” để duy trì và nâng đở sức đề kháng của cơ thể, đừng chờ ngon miệng mới ăn.
8. Làm sao để tránh được các biến chứng, và biết được mình có bị biến chứng hay chưa?
Mỗi loại biến chứng sẽ có các triệu chứng khác nhau. Tuy nhiên, nói chung, một cách dễ hiểu, nếu thấy bệnh không bớt mà trở nặng lên, với các triệu chứng sốt cao, mê man, khó thở, tím tái, đau ngực..., là có thể đã có biến chứng. Cách tốt nhất để tránh biến chứng là trị bệnh sớm và thích hợp, như đã tóm tắt như trên.

Xác định trẻ bị viêm phổi bằng cách nào?

Xác định trẻ bị viêm phổi bằng cách nào?

Xác định trẻ bị viêm phổi bằng cách nào?

Dấu hiệu thứ nhất:


Một trẻ được coi là viêm phổi khi có ho và thở nhanh, vì khi phổi bị viêm, sự trao đổi oxy ở phổi trở nên khó khăn hơn nên cơ thể rất dễ thiếu oxy.

Trẻ phản ứng lại tình trạng này bằng cách tăng nhịp thở lên để bù đắp lại tình trạng thiếu oxy.
Cha mẹ hoặc người chăm sóc có thể dễ dàng quan sát nhịp thở của trẻ bằng cách vén áo để quan sát sự di động của lồng ngực hoặc bụng. Nếu trẻ có thở nhanh thì thấy sự di động đó nhanh hơn những ngày trẻ bình thường. Ðiều quan trọng là phải quan sát lúc trẻ nằm yên hoặc ngủ. Không được quan sát lúc trẻ đang quấy khóc. Nếu có đồng hồ với kim giây, ta có thể để đồng hồ gần bụng hoặc ngực của trẻ và đếm nhịp thở trong vòng 1 phút. Một trẻ có tình trạng thở nhanh nếu ta đếm được:

- Từ 40 lần trong 1 phút trở lên đối với trẻ từ 1-5 tuổi.
- Từ 50 lần trong 1 phút trở lên đối với trẻ từ 2 tháng đến 1 tuổi.
- Từ 60 lần trong 1 phút trở lên đối với trẻ dưới 2 tháng tuổi.

Ðó là dấu hiệu sớm nhất của một trẻ bị viêm phổi.

Nếu không thể đếm được nhịp thở của trẻ hoặc không thể phân biệt được trẻ có thở nhanh hơn ngày thường hay không, bà mẹ có thể vén áo trẻ lên và quan sát lồng ngực. Nếu thấy trẻ thở khác thường hoặc khi thở phát ra một tiếng bất thường nào đó, cũng có thể trẻ đã bị viêm phổi. Khi nghi ngờ một trẻ bị viêm phổi, cần đưa trẻ đến khám tại các trạm hoặc cơ sở y tế gần nhất để được hướng dẫn điều trị cụ thể. Tuyệt đối không tự ý cho trẻ uống kháng sinh khi chưa có hướng dẫn của thầy thuốc.

Dấu hiệu thứ 2: là co rút lồng ngực.

Vén áo trẻ lên và nhìn vào phần ranh giới giữa ngực và bụng xem có dấu hiệu lõm vào khi trẻ hít vào hay không? Ðể quan sát dấu hiệu này dễ dàng và chính xác, hãy bế trẻ nằm ngang trên lòng mẹ hoặc đặt trẻ nằm ngang trên giường. Hiện tượng này phải thấy thường xuyên ở bất kỳ nhịp thở nào của trẻ khi trẻ nằm yên hoặc ngủ mới có giá trị, còn nếu chỉ thấy lúc trẻ quấy khóc hoặc khi cố gắng hít sâu thì không được coi là co rút lồng ngực. Một trẻ có co rút lồng ngực chứng tỏ đã bị viêm phổi nặng, cần được đưa đến bệnh viện điều trị ngay.

bỏ thuốc lá thầy lang nghị lừa đảo - Cai thuốc lá trong 7 ngày

Soi phế quản - thăm dò quan trọng khi bạn mắc bệnh phổi

Khi bạn mắc bệnh phổi, có thể bạn được yêu cầu làm "Soi phế quản". Vậy soi phế quản là gì ?
Soi phế quản - thăm dò quan trọng khi bạn mắc bệnh phổi


Soi phế quản là thủ thuật y khoa, đưa một ống soi vào trong lòng đường thở của bệnh nhân nhằm mục đích quan sát các tổn  thương trên một phần của đường dẫn khí (khí phế quản). Việc soi phế quản có thể được thực hiện với ống soi cứng hoặc ống soi mềm.

Hiện nay, ở hầu hết các cơ sở khám chữa bệnh có soi phế quản, đều thực hiện nội soi phế quản ống mềm do những ưu điểm như: ống soi mềm mại, do vậy dễ đưa ống vào sâu trong lòng các nhánh phế quản nơi mà nếu sử dụng ống soi cứng thường không tiếp cận được.

Việc sử dụng ống soi mềm thường được hỗ trợ bởi camere và màn hình, nên việc quan sát tổn thương được dễ dàng hơn, bên cạnh đó dùng ống soi mềm ít gây khó chịu cho bệnh nhân hơn ống soi cứng

Trước khi soi phế quản, thông thường bác sỹ yêu cầu bệnh nhân làm một số các xét nghiệm bao gồm: đo chức năng thông khí phổi, xét nghiệm đánh giá tình trạng đông máu, tìm trực khuẩn lao trong đờm. Việc làm những xét nghiệm này giúp bác sỹ đánh  giá mức độ an toàn khi soi phế quản và làm một số thăm dò trong quá trình cuộc soi diễn ra

Sau khi quan sát hình ảnh khí phế quản, nếu phát hiện bất thường, bác sỹ soi phế quản có thể tiến hành cắt một số mảnh (sinh thiết) của vùng tổn thương hoặc dùng chổi (một thiết bị nhỏ, đầu gắn lông cứng) chải lên vùng tổn thương để lây bệnh phẩm. Trong những bệnh lý nhiễm trùng hoặc một số trường hợp khác, bác sỹ soi phế quản có thể tiến hành rửa phế quản. Dịch rửa sau đó được hút ra ngoài, đựng vào ống đã được khử trùng từ trước. Dịch rửa phế quản thu được thường được gửi đi làm một số các xét nghiệm để tìm căn nguyên gây nhiễm khuẩn phổi hoặc tìm tế bào trong dịch rửa phế quản...

Xem : Cai thuốc lá trong 5 ngày - bỏ thuốc lá thanh nghị lừa đảo

Thứ Sáu, 10 tháng 3, 2017

Các bước tiến hành sinh thiết phổi xuyên thành ngực dưới hướng dẫn của chụp cắt lớp vi tính

Bước 1: Chuẩn bị bệnh nhân
Bước 2: Xác định vị trí chọc kim
Bước 3: Tiến hành cắt

Các bước tiến hành sinh thiết phổi xuyên thành ngực dưới hướng dẫn của chụp cắt lớp vi tính

Bước 1: Chuẩn bị bệnh nhân


- Bệnh nhân được giải thích kỹ về mục đích của thủ thuật để bệnh nhân yên tâm và phối hợp tốt.
- Bệnh nhân được tiêm trước 2 ống atropin 0,25mg dưới da trước khi tiến hành 15 phút.
- Thử phản ứng xylocain.

Bước 2: Xác định vị trí chọc kim


- Bệnh nhân được đưa lên bàn chụp  cắt lớp vi tính.
- Bộc lộ toàn bộ phần ngực.
- Tư thế bệnh nhân: nằm ngửa, sấp hoặc nghiêng tuỳ theo vị trí của tổn thương.
- Dựa trên phim chụp cắt lớp vi tính ban đầu xác định lại tổn thương về vị trí, kích thước, tính chất.
- Chụp 1 phim Topogram.
- Trên máy chụp đưa đường đánh dấu lớp cắt về vị trí tổn thương.
- Bật đèn hướng dẫn, đưa vạch sáng màu đỏ về bờ trên của tổn thương trên thành ngực bệnh nhân.
- Dán lá kim lên đường kẻ này.
- Chụp cắt lớp khu vực dán lá kim.
- Chọn lớp cắt để sinh thiết.
- Đo khoảng cách từ  mép ngoài của tổn thương đến da.
- Xác định góc được tạo bởi đường vuông góc với mặt bàn chụp và đường vào dự kiến.
- Đánh dấu vị trí điểm vào trên da.

Bước 3: Tiến hành cắt


- Trong suốt quá trình tiến hành từ khi chụp xác định vị trí đến khi sinh thiết bệnh nhân phải hoàn toàn ở một tư  thế.
- Sát trùng rộng vùng định chọc hai lần bằng cồn iode và lần thứ ba bằng cồn trắng 70%. Trải săng có lỗ vô trùng lên ngực bệnh nhân để hở vùng sinh thiết.
- Đặt ốc định vị trên kim dẫn đường ở vị trí sao cho khoảng cách từ đầu kim đến ốc định vị đúng bằng khoảng cách từ mép da đến bờ ngoài của tổn thương.
- Gây tê từ da đến lá thành màng phổi bằng xylocain 2%x 5ml với bơm và kim tiêm riêng.
- Dùng lưỡi dao mổ rạch một vết nhỏ qua da ở vị trí đưa kim sinh thiết vào để tạo thuận lợi cho quá trình chọc kim dẫn đường.
- Chọc kim dẫn đường qua da ở vị trí đánh dấu, kim đi sát bờ trên xương sườn, theo hướng tạo với đường thẳng góc với bàn chụp góc đã đo ở trên. Dặn bệnh nhân thở ra rồi nín thở, lúc đó mới chọc kim qua lá tạng màng phổi vào vùng tổn thương, kim đi sâu tới mức ốc định vị ở sát mặt da.
- Kiểm tra lại trêm phim chụp đầu kim đã vào đúng đến vị trí tổn thương chưa, và hướng kim đã đúng chưa. Nếu chưa đúng thì chỉnh lại kim.
- Nếu kim dẫn đường đã vào đúng vị trí thì rút nòng của kim dẫn đường ra đồng thời phải đưa ngay kim cắt đã chuẩn bị sẵn vào trong nòng của kim dẫn đường và tiến hành cắt để lấy bệnh phẩm. Sau khi rút kim sinh thiết ra khỏi nòng của kim dẫn đường thì  phải lập tức đưa lại nòng của kim dẫn đường vào.
- Dùng một đầu kim nhỏ để lấy mảnh bệnh phẩm ra khỏi chỗ đựng bệnh phẩm ở đầu kim. Cho ngay bệnh phẩm vào lọ formon đã chuẩn bị sẵn.
- Tiếp tục sinh thiết các mảnh bệnh phẩm khác theo trình tự như trên nhưng theo nhiều hướng khác nhau.
- Khi đã lấy đủ số mảnh bệnh phẩm cần thiết (4 – 6 mảnh) thì lắp một bơm tiêm 20ml vào đầu của kim dẫn đường để hút bệnh phẩm. Dặn bệnh nhân nín thở rồi rút nhanh kim dẫn đường vẫn gắn với bơm tiêm 20ml ra khỏi thành ngực. 
- Người phụ tá sát trùng rồi băng ép vị trí vừa chọc.
- Bệnh phẩm mới hút được được phụt lên tiêu bản, nếu bệnh phẩm lọt vào trong bơm tiêm thì phải được lấy ra hết rồi phết lên lam kính, để khô tiêu bản rồi cố định bằng dung dịch cồn tuyệt đối – ete.